Page 356 - tho van dong thap tuyen tap 2
P. 356
íẩtphSn khỏi, thủn anh ta sẽ suồng sẽ và lỏ*n nhanh. Mỗi công
tràm cho ta bình quân một ngàn cây. Loại tràm « say đậu »
tại chỗ đă là một đồng một cây, loại đòn tay, cừ ba, cừ tư,
cừ năm thì phải từ chục đến vài chục bạc, nếu là cột tràm
tồi đã thấy có người mua một cây cột vỏ’i cải giá ba, bốn
trăm đồng.
Trồng tràm quả là nguồn lợi lỏ'n, nếu tính trong một
chu kỳ mười hai đến mưòi lăm năm, nó không phải như
trồng các loại rừng khác, đến cuối chu kỷ mỏi thu hoạch,
còn tràm thì thu hoạch gần như đều đặn trong quá trình
của chu kỳ, tùy thuộc khả năng lao động của ngưòi
trồng nỏ. Từ tỉa tràm con, đến chiết tràm làm củi bó, làm
«say đậu», làm rui, làm củi chẻ v.v... và phải kề đến nguồn
lợi về hột tràm. Đâv là nguồn lọi cũng khả lỏn của tràm
nhưng rát ít ngiròi làm. Nếu ba lao động đi chọc nhảnh
tràm chở về nhà để lẩv hột trong một ngày có thề được
một giạ, một giạ hột tràm hiện Iiạv giá cả khoảng ba
đến năm trám đồng, bà con miệt bên An Giang đến mua
rẫt nhiều.
Nói chung, trồng tràm không bị một thất bại nào về thò’i
tiết, tràm không đố kỵ một loại đất nào — dù đỏ là anh phèn
bất trị nhứt — đỏ như nưởẹ cau, về 1Ü lụt thì tràm cũng
không sự, còn vốn đầu tư cho việc trồng tràm thì rất nhẹ.
Nhưng nếu chỉ cỏ như thế, chắc tràm ở vùng nầy, nav đẵ
lởn và nhiều lắm rồi. Nỏ còn ón ông «thần lửa». Gái món
nầy thì anh tràm cự không lại, phải đành bỏ tay chịu cho
thân mình tàn lụi, I1Ó chỉ trồng cậy vào ngưòi trồng ra nỏ.
Đề phòng chảv rừng tràm, nhàn dân ở đây đả cỏ nhiều cách,
kinh nghiệm từ thời ông Ba Ngỗng trồng tràm rất sỏm ơ
xứ nay đến nay, vẫn là đào kinh, vừa có nước, vừa ngăn
lửa, phát luồng ngang hai, ba tầm đê ngăn cách khu tràm nầy
với khu tràm khác, ngăn vùng cỏ vỏi vùng tràm làm chòi
mong đẻ canh giữ. Việc phòng cháy tràm vẫn là ván đề mà
Ẹ49

