Page 358 - tho van dong thap tuyen tap 2
P. 358
tiên tôi lên liếp, lầy mương bề ngang bốn íhrrửc, tôi lẩy
xuống ba lóp leng, phân nửa thảy bên bờ này, phân- nửa
thảy bên bờ kia, như thế là nuròi công coi như còn năm liếp
trồng mì, dưới mương tôi sạ lúa. Lúa đó, năm nay chắc cắt
đưọ’c vải chục giạ. Mình lên liếp xong, bỏ một mùa cho phèn
xả ra khi mùa mrớc lên, nưỏ'c vừa giựt là xuống hom mì, nước
lên mùa sau là mình nhố. Mì nầy củ nỏ trong, ăn thì ngon,
nhưng ít bột, nếu làm bộc thì không bằng mì sáu tháng. Tôi
cũng tròng mì bột và làm đựọc bột rồi, nhưng chưa cỏ nơi
tiêu thụ nên không làm nhiều. Trồng mì ỏ* vùng phèn nầy
thì chắc ăn ròi chú Hai ả, chỉ còn một điều là nguồn tiêu thụ,
nếu có nơi mua thì chắc chắn bà con ở đây trông nhiều lắm».
Tồi lại nói vui với chú Tư: «Không sợ ế đâu chú ơi».
Chủ Tư vỗ vai tôi : « Ờ, Nhà nưỏ’c hợp đbng vó i dân thì dân
yên tâm, rồi sể trồng nhiều cho chủ coi». Chú Tư suy nghĩ
m ột lát, nói tiếp: «Nhưng Nhà nước Ỉ1Ọ'P đồng đâu có lẻ tẻ
từng ngưòi được hả chủ Hai, mình phải làm nhiều Iigưòi
mó’i tiện chở. ơ đây, xây dựng tập đoàn trồng mi, rồi làm
lúa mùa xen trong đó, trồng cả tràm nữa, vậy chắc mau khả
lắm hả chú?». Tôi nhìn chú Tư, thấy chú đang cưòi, có lẽ
chú đang suy nghĩ đến một cái gì đó phải đến, chỉ có nó thì
ò' vùng Bưng Sáu Hì này mỏi không còn phải lo mì không
có nguồn tiêu thụ nữa. Tôi đã nói vỏ'i chú việc xí nghiệp
bánh phồng tôm Sa Giang của tỉnh ta đang cần bột mì, chú
Tư như tháy ra một điều gì mỏi : Phải có cách làm ăn lâu
dài và bền vững giữa Nhà nước vói nóng dân thì nông dân
mỏi yên tâm sản xuất, nhứt là ỏ’ vùng sâu, xa thành thị này.
Theo chủ Tư nói, kinh nghiệm trồng mì của chú Tư cũng càn
rải phàn u-rê đễ cho củ ăn lốn, vừa dễ nhồ, vừa có năng
suất cao, mỗi công mì rải năm đến mười kỷ phân u-rê. Như
vậy, hợp đồng vối Nhà nước là một việc rất càn đối với
bà con nông dân ở đây, họp đòng cả về vật tư, vồ tiồu thụ
vệ sản. xuất và chb hiến.
351

