Page 357 - tho van dong thap tuyen tap 2
P. 357
bà con vùng nầy quan tâm nhiều nhât. Chĩ cần một ngọn
lửa vô V của ngưò’i đi dắt ong tràm, hay mấy cậu giữ trâu
đốt chuột, là cả vùng thành bien lửa. Những lần cháy trảm
trước đây bà con vẫn còn ê ẫm, nhớ đến mà lạnh xưong
sống, lửa tạt vào tận nhà, sát bò’ kinh xáng. Một bác nông
dân ỏ'xã Mỹ Hòa đẵ nói vối tôi suy nghĩ của bác: «Tôi
thấy mình phải thống nhứt nhau thể nào thì mói chống chảy
rừng được chú Hai à ! Chớ kiêu một người giữ, hai, ba
người làm bỏ phí cho tròi như thế không được, chảy thì nó
cháy hết có từ ai đâu. Một nhà làm sao giữ nỗi, phải cả xóm
cả xẫ đồng giữ mỏi đưọ’c. Phải thống nhứt, phải tập đoàn,
tập thễ mỏi giữ được. Còn làm sao Nhà Iiưóc chì bảo thi
dân đồng tình ngay thổi, lợi chung cả mà, dân lọi thì Nhà
nước lọi».
Còn anh mỉ, theo tôi thì phải ghép anh ta vào loại
đứng kế anh tràm. Nỏ củng vào loại dám tliigan với phèn,
nhưng anh mì lại có đặc điềm không phải mặt đối mặt với anh
phèn như tràm mà anh phải cỏ một bước đứng xa anh phèn
một năm trưửc, sau đó mỏi dám tiến còng mạnh. Nhưng, anh
có lợi thế hom anh tràm, vì anh là loại cây lương thực,
chu kỳ sinh trưởng của anh ngắn, chỉ cần năm tháng là thu
hoạch được — loại mì ngắn ngày mà bà con ở đây thường gọi
là mì ba tháng, nhưng thật ra phải là năm thảng trồng.
Tôi đưọ’c gặp chú Tư, nhà chú nằm cặp bỗ’ kinh Dương
văn Dương cách chợ Trường Xuân trên cày số, chú là người
trông mì nối tỉếng ở vùng nầy. Chú đẵ kề với tci về cách
trồng mì trên đát phèn như sau : « CỈ1Ú thấy đó, theo dọc
Bưng Sáu Hì nầy, phèn thì kề gì, nhưng mì tôi trồng vân
tốt, mỗi bụi trên kí lô. Tôi đẵ trồng mì từ năm giải phóng
đến nay, mùa nầy tôi bản đưọ’c bảy tám ngàn đồng tiền mặt>
đổi đưọ’c một trăm giạ lúa ».
Tôi hỏi chú Tư về cách trồng, chú dẫn tôi ra tận bờ mì
vừa chỉ vừa thuyết minh ; « cả thảy là mười công đát, đầu
350

