Page 11 - nguoi anh hung chan dat
P. 11
THUỞTHIÍUTHỜI CHO ĐẾN LÚC RA ĐI
rời xanh. Mây trắng. Nắng vàng. Đồng cỏ. Triển sông. Những
câu hò, điệu lý thơm ngát ánh trăng. Những cánh cò dìu dặt
T mơ màng. Những ngày mùa rộn ràng đầu thôn cuối xóm, lúa
mới vào nhà ăm ắp niềm vui. Khói đốt đổng bay trắng trời cao, trào lộng
cánh diều. Những cái chớp roi cày nhắc người nông phu mùa nổm nam
đã đến. Những vạt đất trở mình. Những cơn mưa đầu mùa gọi sấm đồng
xa. Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão. Những vầng mây xám
ăn trăng, giấu đi tiếng hò trai gái hát vào nhau. Những mùa lũ về ruộng
đêm cá quẫy, phù sa đuổi nhau theo con nước lớn ròng. Những bầy chim
áo già về bên đám cỏ đuôi chồn. Những bầy chim lá rụng. Những đàn cò
trắng chiểu hôm kết thành những câu ca dao trên trời cao. Những con
bìm bịp kêu nước lớn. Những con chim vịt kêu chiểu...
Không biết từ bao giờ, những đứa trẻ quê ra đời, bú sữa mẹ, uống
nước cơm pha đường, lên hai, lên ba biết ăn cơm nhai, cơm dặm, cha mẹ
ra đổng thì nghe chị hát ru, cười mụ mấy lần đã thành những đứa trẻ
làng biết nô, biết nghịch. Bỏ lại tấm tã thâm kim trên chiếc nôi tre, những
đứa trẻ ào ra đồng mò cua, bắt ốc, đốt cỏ, chăn bò, giữ trâu, be đất, đắp
bờ và nghiễm nhiên trở thành lũ nhóc con - những chú tiểu nông dân
trên ruộng. Và cứ thế những mùa mưa nắng đi qua. Và cứ thế những đời
người hiện đến. Sự mẩu nhiệm của làng quê, của đất trời; sự mẩu nhiệm
của tình yêu thương từ trái tim con người và tạo vật; sự mầu nhiệm của
những cuộc thiên di với tầng tầng, lớp lớp mồ hôi, nước mắt, xương thịt
rã tan hòa với bụi bùn, cùng ý chí của những thế hệ người yêu tự do, lao
động, sống thác không màng, cầm cuốc, mang cày xuôi về phương Nam
mở cõi, đã tạo ra sự tiếp nối thần kỳ để tháng ngày thành lịch sử ta yêu;
để những đời cha ông buộc nối vào đời những cháu con trên vùng đất dữ
với bao hiểm họa khôn lường làm thành cuộc trường chinh vĩ đại cuối
thiên niên kỷ thứ hai của người Đại Việt, với những chàng An Tiêm ngực
trần lưng đất, nghiêng bóng dưới mặt trời lấy sức bình sinh biến biển

