Page 154 - tap 2 phan 1
P. 154
Để chứng minh, tôi xin trích ra đây hai đoạn trong tập sách
Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II: 1954 - 1975 do Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia ấn hành (trang 961, trang 1032):
Để đảm bảo tiến công táo bạo, thần tốc của các binh đoàn, đồng
thời hạn chế sự đổ nát, thương vong cho nhân dân vào những
giờ phút cuối cùng, công tác binh vận, vận động hậu trường đầu
não chính quyền Sài Gòn lúc này hoạt động ráo riết.
Việc này có sự phối hợp hoạt động của các đảng bộ tại chỗ
mà trực tiếp là đảng bộ Sài Gòn - Gia Định, các lực lượng
tình báo, quân báo, an ninh, binh vận, dân vận không chỉ vận
động quần chúng nổi dậy mà còn huy động mọi lực lượng, mọi
khả năng, kể cả việc huy động một bộ phận lực lượng phong
trào chính trị đô thị là “lực lượng thứ ba” tổ chức bố trí người
nắm hệ thống bộ máy chính quyền, lực lượng quân sự, cảnh
sát, kho tàng, công xưởng, bộ máy phát thanh truyền hình, an
sinh điện nước trong giờ phút quyết định (...)
Việc tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ra tuyên bố
chiều 29-4-1975 chấp nhận các điều kiện do Chánh phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt ra trong
tuyên bố ngày 26-4-1975 để chấm dứt chiến tranh, trên thực tế
là chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, được những người cùng
chí hướng trong lực lượng thứ ba hết lòng ủng hộ và hợp lòng
dân. Hành động đó đã góp phần vô hiệu hóa lực lượng quân
đội Sài Gòn, tránh được đổ nát, gây thêm tang tóc vào giờ phút
quyết định. Đó là thành quả của quá trình vận động từ nhiều
phía, trước hết và chủ yếu do sức mạnh của chính nghĩa cách
mạng, truyền thống đoàn kết yêu nước trong con Lạc cháu
Hồng ở những mức độ khác nhau đã thức thời trỗi dậy.
Cứ giả định như không có cuộc đầu hàng vô điều kiện của
Tổng thống Dương Văn Minh và cả bộ sậu Chánh quyền Sài Gòn
408 Nguyễn Long Trảo

