Page 82 - tap 2 phan 1
P. 82
sức kéo rê chiếc xe qua một bên để lấy lối cho chiếc ô tô nổ máy
chạy qua. Sau đó tôi phải ra sức đẩy qua bên kia cầu để kiểm tra
hỏng hóc, và khi tháo nắp máy ra thì hỡi ôi cái “bô-bin lửa” đã bị
chèn vỡ do vít hãm bị long hồi nào không biết. Mà bô-bin lửa đã
hỏng thì lấy đâu ra điện cho xe nổ máy? Tìm mọi cách xoay tới
xoay lui cả tiếng đồng hồ cũng vô phương, trong lúc đó thì bụng
luôn nơm nớp lo âu bởi đang ngồi ngay dốc cầu, nếu máy bay nó
đến ném bom thì sẽ lãnh đủ. Nhưng rồi “túng quá phải tính” hay
thử lấy “bô-bin đèn” thay vào xem sao? Nào ngờ sau khi lắp xong
chỉnh tới chỉnh lui một hồi thì máy bỗng nhiên nổ, mừng quá chi
là mừng, vội vàng nhảy lên xe chạy tiếp. Bây giờ nghĩ lại thì đó là
một sáng kiến ngoài sách vở, bí quá phải làm bởi nếu không thì
cho dù là tay thợ lành nghề cỡ nào cũng đành phải chào thua. Qua
được phà Chèm thì trời sập tối, xe chạy không đèn thì đâm đầu
xuống ruộng là cái chắc. May quá, nhờ một anh đi xe đạp tốt bụng
dòng dây kéo đến nhà cô Xuân Lan ở Thụy Khuê, sau đó đi bộ về
nhà, kết thúc một chuyến đưa con đi sơ tán khá vất vả. Sau này
nghe con tôi kể lại, thì trong thời gian sơ tán ở Phú Thọ, có lần nó
suýt chết đuối vì bị hụt chân dưới một hố sâu ngập đầu khi xuống
tắm ở một cái hồ người ta đào đất làm gạch.
Những tháng cuối năm 1972, khi máy bay Mỹ ném bom dồn
dập vào Hà Nội, tôi gởi con đi cùng chị Liễu là vợ anh Ca Lê
Thuần đến nơi sơ tán trong một nhà dân thuộc vùng nông thôn
huyện Thạch Thất, cách cơ quan chúng tôi độ vài chục cây số. Cứ
vào tối thứ Sáu, tôi đội đèn ra bãi dâu ven sông Đáy soi bắt cóc
bỏ vào bao, đợi đến chiều thứ Bảy chở xe đạp đến đổ xuống nhốt
trong các hầm trú ẩn cá nhân nơi con sơ tán để hằng ngày nó bắt
lên mươi, mười lăm con làm thịt ăn dần. Có chuyện vui là trong
các chuyến đò qua sông Đáy, khi nghe lũ cóc trong bao kêu cóc...
cóc..., các cô gái cùng đi trên đò bèn hô to theo giọng Hà Tây:
336 Nguyễn Long Trảo

