Page 301 - tho van dong thap tuyen tap 2
P. 301

Mười»  thật  lạ.  trống  thì  không  thấy  nhà  nào  xóm  nào  cẳ,
               nhưng  tới  chừng  đi  lạc  thì  V như  cỏ nhà  cho  mình  ghẻ,  cỏ
               ngườì  đưa  mình đi.  Nè  ăn  bắp  đi  anh.
                    —  Dà, bắp  ngon quá.  Rồi  bà  con  làm  sao  mà  sổng ?
                    — Thì  cũng bám lẩy  đất mà  sống.  Đất  cỏ  hoang vu ngập
               lụt  nhưng,  vẫn  là  đát,  chịu  cực  chịu  khồ  thì  vẫn  sổng
               được.  Dòng  họ tôi bổn đòi  ở đây.  Giờ  chỉ  CÒ11 vọ*  chồng  tôứ
               nhưng  chúng  tôi  vẫn  ở  đây.  Đát  nầy là  đất  của  ông bà  tôi
               khai  phả  mà.  Thuỏ’  ông  cổ  tối  lên  đây  móc  đất  đắp  ruộng,
               rắn  hố  mây  còn lội  đùng  đùng ngoài  đồng,  ồng  cố  tồi đống
               khổ,  gia  tài  chỉ  cỏ  chiếc  xuồng  bẵng  khủc  dừa mỏc ruột.
               Ruộng  chưa  gieo  được,  ông  cổ  đi  gặt  lủa  ma  ngoài  đồng
               mà  ăn.  Ngày đi gặt  lúa  ma,  tối về  nằm khoanh  trong xuồng
               mà  ngủ.  Muỗi  Tháp  Mười thuở  đỏ  khiêng  được trâu, muốn
               ngủ  phải  nhận  nưỏc  đầy  xuồng  rồi  nằm  ngâm  mình trong
               đỏ  chỉ  bỏ’  cải  lỗ  mũi.  Ba  bon  năm như vậy  ông  cố  tồi  cất
               được  cối  nhà,  khai phả đưọ*c khoảng  ruộng  khống  tói  cộng
               đất.  Ông  cố  tồi bèn  trỏ’ về  làng  cũ  tìm  cưới vợ.  Bà  cổ  tôi
               sau thuật lại ông cố  tổi về ngưòi  đen  như  trải ấu,  suốt  bao
               nhiêu  năm  sống  giữa  đồng  trống  hoang  vu nên  chừng quên
               mat tiếng  người,  đến  nhà bà  cố  tồi chỉ giu’ong mắt hết nhìn
               cải nọ  tỏi  cải  kia không  nói  không  rang  chi hết.  Bà  cố  tồi
               thấy vậy thương  quả mỏi  ưng  lấy.
                    Sau  đỏ  rồi hai  người  sổng  rất thuận thảo vói nhau. Một
               năm  sau  bà  cố  tỏi  sanh  được  đửa  con  trai  đầu lòng,  tức  là
               óng  tôi.  Ồng  cố  tồi  chỉ  mặt con  nỏi :  «Mầy lỏn lên  mần  ăn
               không  ra  chi thì  chết,  mầy  coi hai  bàn  tay thằng  cha  mầy
               đáy».  Nói  rồi  ồng  cố  tỏi xòe bàn  tay ra  trước mặt con,  bản
               tay  sần  sùi vì  suốt đò*i  móc  đất  đắp  ruộng.  Đỏ  thời  ông  cổ
               tôi  thi  sổng  như vậy.
                   —  Anh  kê  tiếp  đi,  chà  chuyện  đồng  nưỏ’c...
                   —  Dà,  tòi  xin  kẽ.  Chuyện  không  đầu  khồng  đuôi anh
               chịu khỏ  nghe.  Đến  thòi  ồng  nội tôi  thì  đẵ có  đưọc  ruộng,

               294
   296   297   298   299   300   301   302   303   304   305   306