Page 96 - tap 2 phan 1
P. 96
Những ngày tháng tiếp theo, giặc Mỹ càng tăng cường đánh
phá các địa phương từ Thanh Hóa trở vào nhằm ngăn chặn sự chi
viện về người và của của nhân dân miền Bắc cho miền Nam, nên
tôi lại có những chuyến công tác ở vùng chiến sự Quân khu 4,
những chuyến đi không kém phần vất vả.
Lần đầu tôi được ngồi trên chiếc com-măng-ca do Romania
sản xuất. Nhưng vì chất lượng kém hơn so với xe Liên Xô, hay
chết máy bất tử, nên chúng tôi thường nói đùa là: “xe Ru-ma-ni
vừa đi vừa đẩy.” Cùng đi có đồng chí Cục phó và vài cán bộ kỹ
thuật máy chỉ huy khác. Đi đến Quân khu 4 thì đón đồng chí Tuân
là Trưởng phòng Quân giới cùng đi.
Vì lúc này máy bay Mỹ đánh rất ác liệt từ vĩ tuyến 10 trở vào,
ngày cũng như đêm, cho nên suốt dọc đường lúc nào cũng cảm
thấy khá là căng thẳng. Ban đêm xe không mở đèn pha mà chỉ chạy
bằng đèn gầm (chiếc bóng đèn nhỏ xíu đặt dưới gầm xe để tránh bị
máy bay phát hiện). Ánh sáng mờ mờ chỉ đủ chiếu sáng cách đầu
xe khoảng mươi mười lăm thước, chạy mò mò rất chậm và ngồi
trong xe nhìn ra bốn chung quanh thì rất mệt mắt. Chạy được một
đoạn bỗng thấy phía trước có cây cầu xi măng, anh Tuân là “thổ
địa”, lập tức báo động đây là cầu Đá Mài, nơi địch thường tới ném
bom đánh phá, nên mọi người vội vàng mũ sắt đội vào đầu và nín
thở cho xe chạy qua. Qua cầu êm ru, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm.
Chạy được một đoạn lại thấy một cây cầu xi măng nữa, lần này thì
đầu cầu có tấm biển báo ghi rõ ràng “Cầu Đá Mài”, mọi người mới
té ngửa, rồi lại một lần nữa căng thẳng vượt qua. Đến chỗ an toàn,
tạm dừng xả hơi, tất cả đều cười ồ và nói với anh Tuân rằng cây cầu
Đá Mài của anh là cầu Đá Mài giả, làm anh có hơi bị quê.
Một buổi chiều gần đến chạng vạng, tôi và một vài anh nữa
cùng nhau đi bộ đến kiểm tra một trận địa pháo gần Binh trạm
350 Nguyễn Long Trảo

